Một gia đình có truyền thống khoa cử, yêu nước tiêu biểu ở Cổ Am

 

Sách địa chí tỉnh Hải Dương thời Nguyễn khi viết về huyện Vĩnh Bảo có ca ngợi 4 tổng ở đồng bằng hạ du huyện: “phần lớn thích văn học, trong đó có tổng Đông Am là giỏi nhất, đặt biệt ở xã Cổ Am có danh hiền nối đời khoa bảng. Ngạn ngữ có câu rằng: “Xứ đông Cổ Am, xứ nam Hành Thiện”, câu nói chỉ nơi có nhiều bậc đăng khoa.” Vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, ở xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương xưa (nay thuộc xã Vĩnh Am, thành phố Hải Phòng) có một gia đình nhiều thế hệ đỗ đạt, đó là gia đình cụ Đào Văn Đạo, đỗ Trung khoa và làm quan dưới thời Nguyễn. Con cháu cụ nhiều người tham gia khởi nghĩa chống đế quốc, phong kiến và tham gia cách mạng giải phóng dân tộc, được Nhà nước ghi công, Nhân dân địa phương quý trọng.

Hai cha con cùng đỗ Trung khoa

Sách “Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm” (Viện nghiên cứu Hán Nôm, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2019), trong đó có tập hợp tài liệu “Hải Dương tỉnh địa dư chí” do quan chức tỉnh Hải Dương biên soạn vào đời vua Thành Thái nhà Nguyễn, theo yêu cầu của Kinh lược đại thần (vị quan lớn được triều đình đặc phái đi xuống các địa phương để kiểm tra, giám sát quan lại, giúp đỡ nhân dân và giải quyết các vấn đề quan trọng, cốt để yên dân và giữ gìn kỷ cương pháp luật), ở mục “Vĩnh Bảo huyện” có phần “NHÂN VẬT” giới thiệu 30 vị đỗ đạt của huyện Vĩnh Bảo gồm:

- 13 vị đỗ Đại khoa: 1 Trạng nguyên (Nguyễn Bỉnh Khiêm), 1 Bảng nhãn (Đào Công Chính), 1 Phó bảng (Lê Huy Mễ), còn lại là các vị Tiến sĩ. Trong 13 vị này có 3 người ở xã Cổ Am xưa là: Trần Lương Nhược và Lê Công Cán (cả hai đều đỗ Tiến sĩ thời Lê), Lê Huy Mễ (đỗ Phó bảng thời Nguyễn).

- 17 vị đỗ Trung khoa: Là những người đỗ Hương cống, Cử nhân, trong đó riêng xã Cổ Am có tới 14 vị.

Đáng chú ý trong 17 vị đỗ Trung khoa có danh sách hai cha con người họ Đào, được sách chép như sau: - “Đào Viết Nhị, người xã Cổ Am, đỗ cử nhân khoa năm Ất Mão đời vua Tự Đức (1855), làm quan Tri huyện.” - “Đào Văn Đạo: Người ở xã Cổ Am, đỗ Cử nhân khoa Bính Tuất (?), Hiện làm chức Huấn đạo huyện Phong Doanh.”

Về cử nhân Triều Nguyễn ĐÀO VĂN ĐẠO Sách “Nhân vật lịch sử Hải Phòng” (tập I do nhà nghiên cứu Ngô Đăng Lợi và Trịnh Minh Hiên biên soạn, NXB Hải Phòng, 2000) viết như sau: “Đào Văn Đạo còn có tên Văn Sen, người xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương, nay thuộc thành phố Hải Phòng. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống nho học, cha là Đào Năng Nhụy, đỗ cử nhân năm Ất mùi đời Tự Đức (1855). Đào Văn Đạo đỗ cử nhân khoa Bính tuất đời Đồng Khánh (1886). Vì gia cảnh khó khăn ông phải ra làm quan, trải làm tri huyện các huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, Bất Bạt tỉnh Sơn Tây, Văn Giang tỉnh Hưng Yên. Là con nhà nho ông luôn lấy chữ thanh bần làm trọng nên ở đâu cũng được dân kính yêu.”

Sách này chép người thân sinh ra cử nhân Đào Văn Đạo là cụ Đào Năng Nhụy. So sánh thông tin hai cuốn sách trên thấy: Sách “Nhân vật lịch sử Hải Phòng” có chút nhầm lẫn khi ghi năm 1855 là năm Ất Mùi, thực tế là năm Ất Mão đúng như “Hải Dương tỉnh địa dư chí” ghi, còn việc hai sách chép khác tên: Đào Năng Nhụy và Đào Viết Nhị, theo chúng tôi chỉ là cách đọc/phiên âm khác nhau tên nhân vật được ghi bằng chữ Hán/ Nôm, chữ này có hai âm đọc là NHỊ và NHUỴ (Liên hệ thêm: Hiện nay nhiều người vẫn nói “nhị hoa” hoặc “nhuỵ hoa”;  Câu thơ số 792 trong Truyện Kiều đa số các nhà nghiên cứu Hán Nôm phiên âm: “Nhị đào đã bẻ cho người tình chung”, nhưng cũng có trường hợp như Trương Vĩnh Ký trong tác phẩm “Kim, Vân, Kiều truyện” in tại Sài Gòn năm 1911 phiên là: “Nhụy đào đã bẻ cho người tình chung”.

Vì khoa thi năm Ất Mão đời vua Tự Đức (1855), xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo chỉ có một người thi đỗ cử nhân nên chúng tôi cho rằng cụ Đào Năng Nhụy và Đào Viết Nhị là tên một người, chính là thân sinh của cử nhân Đào Văn Đạo.

Sách “Nhân vật lịch sử Hải Phòng” có tham khảo các nguồn gồm: Tài liệu Hội thảo phong trào yêu nước của Việt Nam quốc dân Đảng tại Hải Phòng, cuốn “Nguyễn Thái Học” của Nhượng Tống, Hồi ký Trần Huy Liệu và đặc biệt là tài liệu của nhà giáo Đào Trọng Luyến ở Cổ Am - cháu ruột của cử nhân Đào Văn Đạo, do vậy tên phụ thân của cụ Đạo là quan Tri phủ Đào Năng Nhụy là ghi chép của con cháu trong nhà.

Tài liệu “Hải Dương tỉnh địa dư chí” do quan chức tỉnh Hải Dương biên soạn vào đời Thành Thái (trong khoảng 1889 - 1907), đây có lẽ là thời điểm hoàn thành, còn mục viết về huyện Vĩnh Bảo ghi: “Năm Đồng Khánh nguyên niên kính tra cứu”, có nghĩa việc tra cứu thực hiện trước đó, vào năm đầu tiên niên hiệu vua Đồng Khánh nhà Nguyễn, tức năm Bính Tuất 1886.

Năm Bính Tuất 1886 cũng là năm ông Đào Văn Đạo đỗ Cử nhân, rồi làm chức Huấn đạo huyện Phong Doanh, tỉnh Nam Định xưa (Huấn đạo là chức quan chuyên trách về việc học hành, thi cử, chỉ được bố trí ở các huyện phát triển việc học hành và khoa cử). Sau này ông Đào Văn Đạo được bổ làm Tri huyện ở nhiều nơi, cuối cùng là huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xưa nên nhiều người dân địa phương gọi ông là Cụ huyện Văn Giang.

Như “Hải Dương tỉnh địa dư chí” giới thiệu, trong vòng hàng trăm năm khoa cử Nho học, huyện Vĩnh Bảo có 30 vị đỗ đạt thì gia đình ông Đạo đóng góp hai người (là hai cha con Đào Năng Nhụy và Đào Văn Đạo), đều đỗ Trung khoa (Cử nhân) và đều được bổ làm Tri huyện.

Gia đình cách mạng

Các con trai cụ Đạo là các ông: Đào Văn Lĩnh, Đào Văn Chiểu, Đào Văn Thê đều được đào tạo học hành nhưng không ai phục vụ chính quyền thực dân, phong kiến, mà dùng kiến thức của mình để tham gia các hoạt động giáo dục, góp phần mở mang dân trí, lập ra tổ chức “Tứ dân liên hiệp đoàn” (sĩ, nông, công, thương) mục tiêu vận động Nhân dân chống hủ tục, rượu chè, cờ bạc, cô đầu, chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá…

Cuối năm 1927, ở Hà Nội, lãnh tụ Nguyễn Thái Học đã thành lập tổ chức yêu nước “Việt Nam Quốc dân Đảng”, với lực lượng nòng cốt là trí thức tiểu tư sản, tư sản dân tộc làm, chủ trương bạo động dùng vũ lực đánh đổ bộ máy thống trị thực dân phong kiến, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Chỉ trong một thời gian ngắn, Việt Nam Quốc dân Đảng đã phát triển mạnh mẽ lan rộng khắp các tỉnh ở Bắc kỳ, từ Hà Nội cho đến Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Phú Thọ, Sơn Tây, Phả Lại, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình...

Năm 1929, cả ba người con trai cụ Đạo là các ông: Đào Văn Lĩnh, Đào Văn Chiểu, Đào Văn Thê cùng Trịnh Khắc Dần, Lê Đắc Tích là con rể, Trần Trọng Tự là cháu ngoại cụ Đạo đều tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng. Sách “Nhân vật lịch sử Hải Phòng” chép: “Tất cả sáu người con trai, con rể, cháu ngoại đều tích cực hoạt động chống đô hộ Pháp. Đào Văn Thê, Đào Văn Lĩnh trở thành yếu nhân của phong trào yêu nước Hải Phòng, Vĩnh Bảo chỉ huy hạ huyện lỵ Phụ Dực. Sau vụ này, tất cả 6 người đều bị kết án tù đày ra Côn Đảo. Khi ở tù, họ giữ vững khí tiết người cách mạng. Đào Văn Thê làm chủ nhiệm một tờ báo bí mật, tập hợp những cây bút có tiếng như Trần Huy Liệu, Nhượng Tống, Phạm Tuấn Tài... Đào Văn Thê, Đào Văn Lĩnh chết ở Côn Đảo vì hậu quả của tra tấn, vì chế độ khắc nghiệt của nhà tù. Còn Trịnh Khắc Dần trở thành đảng viên Cộng sản khi ở Côn Đảo.

Thống sứ Bắc Kỳ đã trách cứ nghiêm khắc Đào Văn Đạo về việc con cháu ông chống Nhà nước bảo hộ, nhưng ông đã dùng lý lẽ bác lại, rồi xin bỏ quan về quê sống cảnh thanh bần cùng dân thôn.”

Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quốc dân Đảng, những người con, cháu cụ Đạo bị kết án lưu đày vẫn kiên cường đấu tranh, tự đào tạo, tôi rèn ý chí trong ngục tù thực dân, tiêu biểu như ông Đào Văn Thê vẫn phát động và làm chủ nhiệm báo trong tù. Hay ông Trịnh Khắc Dần (1911 - 1996), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương trong nhà tù Côn Đảo. Năm 1936, sau khi được trả tự do, ông về quê Cổ Am, Vĩnh Bảo thành lập nhóm Thanh niên Cộng sản, hoạt động cách mạng và trở thành 1 trong 3 đảng viên của Chi bộ Cộng sản đầu tiên huyện Vĩnh Bảo, tiền thân của Đảng bộ huyện sau này. Đến đầu năm 1940, ông Trịnh Khắc Dần lại bị thực dân Pháp bắt giam, xử tù tại Hải Dương. Sau đó ông vượt ngục trở về Vĩnh Bảo tiếp tục hoạt động cách mạng, xây dựng lực lượng, tham gia tổng khởi nghĩa giành chính quyền vào tháng 8 năm 1945, rồi giữ nhiều chức vụ quan trọng: Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Vĩnh Bảo, Bí thư mặt trận Việt Minh tại Hải Dương, Bí thư Tỉnh uỷ Ninh Bình, Phó Bí thư Tỉnh uỷ Hải Dương, Bí thư Tỉnh uỷ Hưng Yên v.v và Vụ trưởng vụ Kế toàn Tài Vụ, Bộ Vật tư cũ.

Cụ Đào Văn Đạo đã duy trì, giữ lửa truyền thống học hành của gia đình và sinh dưỡng, giáo huấn con cháu sống có ích cho cách mạng, quê hương, đất nước, do vậy “Dân Cổ Am rất kính trọng nhà nho yêu nước tiết tháo Đào Văn Đạo đã có công giáo huấn con cháu giữ được nếp nhà.” (trích sách “Nhân vật lịch sử Hải Phòng” đã dẫn ở trên.

 (Nguồn: Một gia đình có truyền thống khoa cử, yêu nước tiêu biểu ở Cổ Am/Nguyễn Dương//Báo An ninh Hải Phòng.- Ngày 7/ 4/ 2026)

 

Facebook zalo

Các tin đã đưa